Các công cụ xác định mục tiêu giá và biên độ sóng
2 công cụ chủ yếu được được sử dụng một cách hiệu quả nhất để thực hiện chức năng này chính là kênh giá và Fibonacci.
- Kênh giá
Kênh giá bao gồm 2 đường xu hướng song song với nhau và chứa gần như toàn bộ biên độ dao động của giá trong một sóng. Ở các mẫu hình sóng tam giác, 2 đường xu hướng này mặc dù không song song nhưng trong tình huống này, chúng ta vẫn xem nó như là một kênh giá.
Công cụ kênh giá này thường được sử dụng để nhận diện các sóng có cùng cấp độ, hiệu quả trong các mẫu hình sóng động lực (impulse waves) cơ bản, mẫu hình Zigzag hay các mẫu hình sóng tam giác.
Ví dụ:
Kênh giá của mô hình impulse waves cơ bản và corrective waves có các sóng con là các mẫu sóng Zigzag

Kênh giá xác định mục tiêu sóng 3 và sóng C
Một trong những nguyên tắc khi xác định mục tiêu giá và biên độ của sóng dựa vào kênh giá chính là thị trường phải hình thành ít nhất 2 sóng.
Sau khi sóng 1 và 2 hoặc A và B đã hình thành thì tiến hành vẽ kênh giá cho sóng động lực hoặc sóng điều chỉnh.

- Sóng động lực: đường xu hướng dưới được xác định trước, đi qua điểm bắt đầu sóng 1 và điểm cuối sóng 2.
- Đường xu hướng trên xác định sau, đi qua điểm cuối sóng 1 và song song với đường xu hướng dưới.
Sóng điều chỉnh: đường xu hướng trên xác định trước, đi qua điểm đầu sóng A và điểm cuối sóng B. Đường xu hướng dưới xác định sau, đi qua điểm cuối sóng A và song song với đường xu hướng trên.
Mục tiêu giá của sóng 3 và sóng C ít nhất phải nằm trên các đường xu hướng (như hình vẽ).
Tuy nhiên, sóng 3 thường dài hơn sóng 1 và là sóng dài nhất trong mô hình sóng động lực nên nó bắt buộc phải chạm đến kênh giá hoặc vượt ra khỏi kênh giá, nếu không thì đó là sóng C và mô hình sóng ban đầu trở thành sóng điều chỉnh, không còn là sóng động lực.
Đối với sóng C trong sóng điều chỉnh thì mục tiêu giá có thể chạm, vượt hoặc chưa vượt kênh giá đều được.
Nếu sóng 2 và sóng B vượt ra khỏi kênh giá thì có thể chúng chưa hoàn thành và đang di chuyển với cấu trúc phức tạp hơn nên chưa thể xác định được sóng 3 và sóng C. Lúc này, cần một công cụ khác để xác định mục tiêu của sóng 3 và sóng C.
Kênh giá xác định mục tiêu sóng 4
Sau khi sóng 3 hình thành, chúng ta buộc phải vẽ lại kênh giá mới và kênh giá này có thể sẽ không trùng với kênh giá ban đầu khi sóng 1 và 2 hình thành như trường hợp ở trên.

Sóng động lực: đường xu hướng dưới được xác định trước, đi qua điểm bắt đầu sóng 1 và điểm cuối sóng 2. Đường xu hướng trên xác định sau, đi qua điểm cuối sóng 1 và song song với đường xu hướng dưới.
Sóng điều chỉnh: đường xu hướng trên xác định trước, đi qua điểm đầu sóng A và điểm cuối sóng B. Đường xu hướng dưới xác định sau, đi qua điểm cuối sóng A và song song với đường xu hướng trên.
Mục tiêu giá của sóng 3 và sóng C ít nhất phải nằm trên các đường xu hướng (như hình vẽ).
Tuy nhiên, sóng 3 thường dài hơn sóng 1 và là sóng dài nhất trong mô hình sóng động lực nên nó bắt buộc phải chạm đến kênh giá hoặc vượt ra khỏi kênh giá, nếu không thì đó là sóng C và mô hình sóng ban đầu trở thành sóng điều chỉnh, không còn là sóng động lực.
Đối với sóng C trong sóng điều chỉnh thì mục tiêu giá có thể chạm, vượt hoặc chưa vượt kênh giá đều được.
Nếu sóng 2 và sóng B vượt ra khỏi kênh giá thì có thể chúng chưa hoàn thành và đang di chuyển với cấu trúc phức tạp hơn nên chưa thể xác định được sóng 3 và sóng C. Lúc này, cần một công cụ khác để xác định mục tiêu của sóng 3 và sóng C.
Kênh giá xác định mục tiêu sóng 4
Sau khi sóng 3 hình thành, chúng ta buộc phải vẽ lại kênh giá mới và kênh giá này có thể sẽ không trùng với kênh giá ban đầu khi sóng 1 và 2 hình thành như trường hợp ở trên.

Kênh giá mới được thiết lập như sau: đường xu hướng dưới được vẽ trước, đi qua điểm cuối của sóng 2 và điểm cuối của sóng 4. Đường xu hướng trên vẽ sau, đi qua điểm cuối sóng 3 và song song với đường xu hướng dưới.
Mục tiêu giá của sóng 5 ít nhất sẽ chạm vào đường xu hướng trên. Trong trường hợp sóng 3 tăng yếu thì sóng 5 sẽ vươn lên rất mạnh hoặc trong trường hợp sóng 5 mở rộng thì có thể vượt ra ngoài phạm vi của kênh giá. Ngược lại, nếu sóng 3 là một sóng tăng lên mạnh mẽ, khá dài thì sóng 5 sẽ là một sóng ngắn, có thể không chạm vào kênh giá.
Fibonacci
Khi nghiên cứu về tính chất toán học của sóng và các mẫu hình sóng, Ralph Nelson Elliott đã đi đến kết luận về mối quan hệ giữa Fibonacci và sóng Elliott rằng dãy số Fibonacci chính là cơ sở của Lý thuyết sóng Elliott. Các mức thoái lui quan trọng của Fibonacci xuất hiện nhiều lần trong cấu trúc sóng Elliott, bao gồm cả mô hình sóng động lực và sóng điều chỉnh cơ bản và trong tất cả các dạng mẫu hình sóng phức tạp hơn của chúng.
Để tính toán được biên độ của sóng thì ít nhất thị trường đã hình thành được sóng đầu tiên, là sóng 1 của sóng impulse waves hoặc sóng A của sóng corrective waves.
Sóng 1 và sóng A là sóng cơ sở, độ dài và độ dốc của chúng sẽ quyết định đến biên độ của những sóng tiếp theo khi sử dụng Fibonacci.
Trên phần mềm giao dịch, để xác định biên độ các sóng động lực (3, 5), chúng ta sử dụng Fibonacci Extension, các sóng điều chỉnh (2, 4) thì sử dụng Fibonacci Retracement.
Sóng 2
Theo nguyên tắc của Lý thuyết sóng Elliott, sóng 2 không được vượt quá điểm bắt đầu của sóng 1. Mức điều chỉnh hay thoái lui thường gặp của sóng 2 so với sóng 1 là ở khoảng trên 30%, tương ứng với các mức Fibo quan trọng như 38.2%, 50%, 61.8% hoặc 76.4%.

Để xác định biên độ sóng 2, các bạn dùng Fibonacci Retracement cho đoạn xu hướng tăng sóng 1.
Sóng 3
Sóng 3 không là sóng ngắn nhất và thường là sóng dài nhất trong số các sóng 1, 3 và 5. Chính vì vậy, sóng 3 sẽ có khả năng chạm vào các mức Fibo quan trọng cao hơn như 123.6% hay 161.8%. Trong trường hợp sóng 3 mở rộng thì nó sẽ tăng lên đến 261.8%, thậm chí 461.8% so với sóng 1.

Để xác định biên độ sóng 3, các bạn dùng Fibonacci Extension cho đoạn xu hướng tăng sóng 1, điểm thoái lui là điểm cuối của sóng 2.
Sóng 4
Sóng 4 là đợt sóng điều chỉnh sau khi sóng 3 hình thành, nên độ dài sóng 3 sẽ là cơ sở để xác định biên độ của sóng 4.
Nếu sóng 3 là một sóng impulse waves cơ bản thì sóng 4 sẽ thường điều chỉnh lại tại các mức thoái lui 38.2%, 50% hoặc 61.8% so với sóng 3. Nếu sóng 3 mở rộng thì sóng 4 chỉ điều chỉnh bằng 23.6% hoặc tối đa là 38.2% so với sóng 3.
Tuy nhiên, để thỏa mãn nguyên tắc “sóng 4 không đi vào vùng giá của sóng 1” thì sóng 4 chỉ thường điều chỉnh về các mức 23.6% hoặc 38.2% so với sóng 3, trừ trường hợp mẫu sóng tam giác chéo phân kỳ.

Để xác định biên độ của sóng 4, các bạn sử dụng Fibonacci Retracement cho đoạn xu hướng tăng sóng 3.
Sóng 5
Có 3 trường hợp cần lưu ý khi xác định biên độ của sóng 5.
Nếu sóng 3 là một sóng ngắn, chỉ bằng khoảng 123.6% so với sóng 1 và thấp hơn 161.8% so với sóng 1 thì sóng 5 sẽ là một sóng mở rộng. Biên độ của nó sẽ được xác định theo nhiều cách khác nhau như:
- Bằng 161.8% hoặc thậm chí 261.8% so với sóng 3.
- Bằng 61.8% hoặc 100% hoặc 161.8% so với tổng độ dài của sóng 1 và sóng 3: được tính bằng khoảng cách từ điểm bắt đầu sóng 1 đến điểm kết thúc sóng 3.
- Thậm chí có thể bằng 161.8% tổng độ dài sóng 1 và sóng 3, sau đó cộng thêm khoảng cách từ điểm cuổi sóng 3 đến điểm cuối sóng 4, tùy thuộc vào từng mẫu hình mở rộng của sóng 5.
Nếu sóng 3 là một sóng rất dài, hoặc sóng 3 mở rộng thì biên độ sóng 5 sẽ ngắn lại, phổ biến nhất là sóng 5 sẽ bằng với sóng 1 hoặc dao động từ 123.6% – 161.8% so với sóng 1.
Ví dụ: trường hợp sóng 3 ngắn, sóng 5 mở rộng.

Trong trường hợp trên, chúng ta có thể sử dụng Fibonacci Extension cho đoạn tăng giá từ điểm bắt đầu sóng 1 đến điểm cuối sóng 3, điểm thoái lui là điểm cuối sóng 4.
Trường hợp thứ 3 đặc biệt nhất là sóng 5 có biên độ bằng sóng 3, điểm cuối sóng 5 bằng điểm cuối sóng 3 hoặc cao hơn nhưng không đáng kể, nghĩa là sóng động lực lúc này có dạng failed 5th.
Sóng B
Ở dạng mẫu hình Zigzag, sóng B thường điều chỉnh sao cho không vượt ra khỏi vùng giá của sóng A và thường bằng 38.2%, 50% hoặc 61.8% so với sóng A.
Ở dạng mẫu hình Flag, sóng B bằng với sóng A hoặc vượt ra khỏi phạm vi giá của sóng A một đoạn ngắn, thường bằng 123.6% hoặc 138.2% so với sóng A.

Để xác định biên độ giá trong trường hợp này, các bạn sử dụng Fibonacci Retracement cho đoạn xu hướng giảm là sóng A.
Sóng C
Trong mẫu hình Zigzag thì độ dài sóng C ít nhất bằng 61.8% sóng 1. Trong trường hợp độ dài 2 sóng bằng nhau thì sóng C hồi về tỷ lệ Fibo 100%.
Trong mẫu hình Flag, sóng C hồi về bằng điểm cuối của sóng A tức là bằng 100% so với sóng A trong trường hợp sóng B không vượt ra khỏi vùng giá sóng A hoặc sóng C bằng 123.6% – 161.8% so với sóng A trong trường hợp sóng B vượt khỏi vùng giá của sóng A.

Công cụ được sử dụng trong trường hợp này là Fibonacci Extension của đoạn xu hướng giảm là sóng A, điểm thoái lui là điểm cuối của sóng B.
Tất cả ví dụ minh họa của những phần nội dung ở trên đều áp dụng cho cấu trúc sóng Elliott trong xu hướng chính là tăng. Đối với xu hướng giảm, các bạn chỉ cần thực hiện ngược lại.
면책 조항: 본 게시글에 표현된 견해는 전적으로 작성자의 견해이며 Followme의 공식 입장을 대변하지 않습니다. Followme는 제공된 정보의 정확성, 완전성 또는 신뢰성에 대해 책임을 지지 않으며, 서면으로 명시적으로 언급되지 않는 한 해당 내용을 기반으로 취해진 어떠한 조치에 대해서도 책임을 지지 않습니다.
